Sâu bệnh hại nấm sò

Ngày đăng: 15/12/2021

Nấm sò là loại nấm được trồng khá phổ biến tại Đà Nẵng, phù hợp với xu thế phát triển nông nghiệp đô thị. Để trồng nấm sò năng suất, có hiệu quả thì việc chú trọng vào khâu phòng trừ sâu bệnh hại nấm là việc cực kỳ quan trọng. Sau đây, Trung tâm Khuyến ngư nông lâm xin lưu ý một số bệnh thường gặp và biện pháp phòng trừ trên đối tượng nấm sò như sau:

Đối với nấm nói chung bị ảnh hưởng bởi 3 nhóm:

- Bệnh sinh lý: gây ra do các yếu tố ngoại cảnh như: Ánh sáng, nhiệt độ, pH, nồng độ CO2, oxy, độ ẩm của môi trường hoặc do giống gốc ban đầu đã bị thoái hoá.

- Bệnh nhiễm: chủ yếu là các nhóm vi sinh vật như: vi trùng, nấm mốc xanh (Trichoderma spp.), nấm mốc cam (Neurospora spp.), nấm nhầy (Myxomycetes), nấm dại…

- Côn trùng gây hại: ruồi nấm,  ấu trùng ruồi (dòi), sâu hại… hay cũng có thể do tuyến trùng gây ra.

1. Bệnh sinh lý

a) Bệnh chết sợi giống

- Biểu hiện: Sau một thời gian nuôi sợi chúng ta không thấy các túi nấm có hiện tượng bung sợi hoặc sợi mọc nhưng không bám vào cơ chất. Nếu kéo dài thời gian hạt có sợi giống sẽ bị mốc xanh hoặc nhũn nát, không còn màu trắng của sợi giống nấm ban đầu.

- Nguyên nhân: có nhiều nguyên nhân làm chết sợi giống, trong đó chủ yếu là:

+ Giá thể không thích hợp do nguyên liệu có chất dầu hoặc chất thơm.

+ Túi giá thể bị nhiễm khuẩn sinh độc tố.

+ Bịch phôi đã nhiễm nấm mốc, chúng hô hấp sinh nhiệt và CO2 cao.

+ Nhiệt độ nuôi sợi nấm không thích hợp, quá nóng hoặc quá lạnh.

- Biện pháp khắc phục: Từ các nguyên nhân chúng ta có cách khắc phục tương ứng: 

+ Kiểm tra nguồn nguyên liệu và quá trình xử lý

+ Thực hiện đúng quy trình hấp khử trùng bịch phôi

+ Che chắn khu vực ươm sợi nếu nhiệt độ quá thấp hoặc thông thoáng nếu nhiệt độ quá cao.

b) Bệnh sợi nấm mọc yếu, nhanh chóng lão hóa

- Biểu hiện: Sợi giống nấm phát triển nhanh, hệ sợi mảnh, mờ nhạt, không mọc sâu vào cơ chất.

- Nguyên nhân:

+ Giá thể quá ẩm ẩm hoặc quá khô.

+ Thời gian ủ nguyên liệu quá dài, làm cho nguyên liệu bị đen, vụn nát.

+ Giống bị yếu do vận chuyển, bảo quản không cẩn thận làm giống bị giảm sinh lực.

- Biện pháp khắc phục:

+ Kiểm tra độ ẩm nguyên liệu cẩn thận trước khi đóng bịch

+ Xử lý nguyên liệu đúng quy trình kỹ thuật

+ Chọn giống tốt, đảm bảo yêu cầu chất lượng

c) Bệnh sợi nấm bị co

- Biểu hiện: Ban đầu sợi giống bung sợi và sinh trưởng bình thường, nhưng khi sợi mọc gần đến đáy túi thì dừng lại, không mọc tiếp và chuyển sang màu trắng thạch cao.

- Nguyên nhân:

+ Do độ ẩm trong giá thể quá cao nên thường đọng nước ở đáy túi nấm,

+ Giá thể bị nhiễm khuẩn ở đáy, còn mùi SO2.

- Biện pháp khắc phục:

Chúng ta có thể lật ngược túi nấm hoặc dùng kim chọc túi tại chỗ đọng nước để nước chảy ra ngoài.

d) Bệnh hại quả thể do ảnh hưởng của nhiệt độ

- Nhiệt độ ảnh hưởng lớn tới sự hình thành và phát triển của quả thể nấm. Trong giai đoạn nấm ra quả thể dạng san hô, nếu nhiệt độ thay đổi lạnh đột ngột thì toàn bộ quả thể sẽ ngừng phát triển, teo đầu và trở nên khô cứng.

- Biện pháp khắc phục: dùng bạt nilon che chắn cẩn thẩn khu vực nhà trồng khi thời tiết thay đổi đột ngột.

đ) Bệnh hại quả thể do ảnh hưởng của nồng độ CO2

- Khi nhà trồng thiếu oxy, nồng độ CO2 quá cao thì ảnh hưởng rõ rệt đến sự kéo dài của cuống nấm. Trong trường hợp này nấm có cuống dài, chia nhánh ốm và mãnh, không có mũ hoặc có mũ rất nhỏ.

- Nguyên nhân: giai đoạn quả thể hình thành, nấm cần lượng oxy cao gấp nhiều lần giai đoạn sợi. Đồng thời quá trình hô hấp của sợi nấm sinh ra nhiều CO2.

- Biện pháp khắc phục: tăng độ thông thoáng bằng cách dùng lưới che chắn hoặc dùng quạt để thông khí hằng ngày. Chúng ta không nên để quá nhiều bịch nấm trong nhà trồng

e) Bệnh hại quả thể do ảnh hưởng của độ ẩm

Độ ẩm không khí ảnh hưởng đặc biệt đến giai đoạn phát triển của quả thể. Nấm hình thành quả thể tốt nhất ở độ ẩm không khí 80 – 95%. Ở độ ẩm không khí thấp (khoảng 50%) nấm sẽ ngừng phát triển và chết, đối với nấm sò nếu nấm ở dạng phễu lệch và dạng lá thì quả thể sẽ bị khô bìa mép và cuốn lại, chuyển thành màu vàng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp độ ẩm không khí cao chưa hẳn là tốt đối với nấm. Quả thể nấm sò sẽ mềm nhũn và rũ xuống ở độ ẩm lớn hơn 95%.

2. Bệnh nhiễm

Nhiễm nấm dại

a) Mốc trứng cá

- Biểu hiện:

+ Loại mốc này thường nhiễm trên các túi nấm sò trồng trên rơm, bông hạt. Sợi nấm mốc trứng cá rất mảnh, có màu trắng nhạt gần giống như sợi nấm rơm.

+ Sợi nấm mốc phát triển bện kết với sợi nấm sò tạo thành những hạt có màu trắng đục hoặc nâu nhạt như trứng cá, rất cứng.

- Nguyên nhân: nguyên liệu không được khô hoặc ẩm mục do bị ngấm nước lâu ngày. 

- Cách phòng trừ:

+ Khi ủ nguyên liệu phải đảm bảo nhiệt độ đống ủ đạt 75 – 80oC.

+ Cách ly những bịch nấm bị nhiễm bệnh ra xa khu vực nuôi trồng, dùng nước vôi 0,5 – 1% tưới lên vết bệnh.

b) Mốc cam

- Biểu hiện: Bệnh mốc cam thường gặp ở những túi nấm sò trồng trên mùn cưa, nếu nút bông bị ướt hoặc ở những túi nấm bị rách hay bị vỡ. Chúng mọc dày trên bề mặt nút bông và các ch ỗ bị rách túi, sinh ra các bào tử màu cam.

- Cách khắc phục:

+ Thay nút bông mới khi nút bông bị ướt sau hấp.

+ Không làm rách hay vỡ túi nấm.

+ Vệ sinh nhà cấy giống sạch sẽ.

+ Cách ly các túi nấm bị nhiễm bệnh ra xa khu vực nuôi trồng, quét thuốc tím (KMnO4) lên các điểm bị nhiễm bệnh.

c) Mốc xanh

- Biểu hiện:

+ Mốc xanh có hệ sợi mảnh, mọc sát vào cơ chất. Vết bệnh trải rộng nhanh, bào tử tạo thành dề, mịn, ban đầu có màu trắng, sau chuyển sang màu xanh lục hoặc xanh lam.

+ Chúng cạnh tranh dinh dưỡng với nấm, đồng thời tiết ra độc tố ức chế và tiêu diệt sợi nấm sò.

- Nguyên nhân:

+ Khử trùng giá thể chưa đạt yêu cầu.

+ Giá thể quá ẩm.

+ Quá trình cấy giống bị nhiễm bào tử mốc từ không khí.

+ Phòng nuôi sợi có nhiệt độ cao, ẩm ướt, vệ sinh chưa đạt yêu cầu.

- Cách khắc phục:

+ Thực hiện hấp thanh trùng bịch phôi đúng yêu cầu .

+ Kiểm tra độ ẩm cơ chất cẩn thẩn trước khi đóng túi.

+ Vệ sinh nhà cấy giống sạch sẽ, che chắn để tránh gió.

+ Kiểm tra lại điều kiện của nhà nuôi sợi nấm.

+ Cách ly các túi nấm bị nhiễm bệnh ra xa khu vực nuôi trồng.

d) Mốc đen

- Biểu hiện:

+ Giống như mốc xanh, hệ sợi mốc đen mọc sát vào cơ chất. Bào tử ban đầu có màu trắng, sau chuyển sang màu đen hoặc màu nâu.

+ Chúng cạnh tranh dinh dưỡng và nguồn oxy với nấm sò, đồng thời tiết ra độc tố ức chế và tiêu diệt sợi nấm sò.

- Nguyên nhân:

+ Khử trùng cơ chất chưa đạt yêu cầu.

+ Giá thể quá ẩm ướt.

+ Quá trình cấy giống bị nhiễm bào tử mốc từ không khí.

+ Phòng nuôi sợi có nhiệt độ cao, ẩm ướt, vệ sinh chưa đạt yêu cầu.

- Cách khắc phục:

+ Thực hiện hấp thanh trùng các túi giá thể đúng yêu cầu.

+ Kiểm tra độ ẩm cơ chất cẩn thẩn trước khi đóng túi.

+ Vệ sinh nhà cấy giống sạch sẽ, che chắn để tránh gió.

+ Kiểm tra lại điều kiện của nhà nuôi sợi nấm.

+ Cách ly các túi nấm bị nhiễm bệnh ra xa khu vực nuôi trồng.

Bệnh nhiễm do vi khuẩn

- Vi khuẩn nhiễm vào quả thể thường ở chân hoặc mũ nấm, chúng hút dinh dưỡng làm quả thể bị khô xác, mũ nấm bị vết thâm đen, thối nhũn hoặc gây những vết nâu ở mũ nấm. 

- Nguyên nhân: Khử trùng cơ chất chưa đạt yêu cầu; trong khi khử trùng xếp các bịch nấm xếp quá chặt, do đó tạo áp suất giả nên vi khuẩn còn tồn tại và gây nhiễm. 

- Cách phòng bệnh: Tuân thủ đúng quy trình khử trùng cơ chất và vệ sinh sạch sẽ khu vực nuôi trồng nấm.

Bệnh nhiễm do vi rút

- Vi rút lây nhiễm vào nấm thường làm ức chế sự phát triển của quả thể, mũ nhỏ, cuống dài, thậm chí gây chết nấm.

- Nguyên nhân: do tuyến trùng bị bệnh hoặc các bào tử đã nhiễm vi rút lây lan khắp mọi nơi. 

- Bệnh vi rút không có thuốc đặc trị, chỉ dùng biện pháp phòng bệnh như đốt khử trùng hoặc dùng nhiệt độ cao để xử lý môi trường nuôi trồng nấm và khu vực nấm bị bệnh.

3. Côn trùng phá hoại

a) Nhện

- Thường có ở các nơi nuôi trồng nấm hương mộc nhĩ, nấm rơm, nấm sò. Nhện rất bé, có màu nâu thường ẩn nấp ở các góc khuất, trong cơ chất. Nhện thường cắn sợi nấm, hại nụ nấm và quả thể non.

- Cách phòng trừ chủ yếu: 

+ Chọn nơi nuôi trồng tốt, xa nơi chứa nguyên liệu. 

+ Cơ chất phải được khử trùng triệt để bằng hơi nước hoặc ủ đống có nhiệt độ > 75oC. 

b) Rệp

- Rệp (bọ mạt) có kích thước rất nhỏ như hạt bụi, có màu trắng nhạt, chúng sinh sản rất nhanh theo kiểu bọc ấu trùng. Trứng rệp có khả năng tự hút dinh dưỡng từ sợi nấm phát triển lớn dần như trứng ốc, trứng cá và chuyển màu từ màu trắng ngà sang màu vàng. Bọc trứng tạo ấu trùng sau 10 - 15 ngày hình thành hàng ngàn cá thể mới. Với kích thước rất nhỏ, lây truyền nhờ gió và kiểu sinh sản bọc ấu trùng nên rệp nấm phát triển rất nhanh và tác hại rất lớn. Ban đầu rệp ký sinh ở nút bông, vỏ bịch nấm, tìm cách chui vào trong bịch (nếu nút bông lỏng) hoặc xâm nhiễm qua vết rạch bịch làm thất thu toàn bộ. Các bịch nhiễm rệp có các hạt như trứng cá ở bề mặt hoặc tại vết rạch, xung quanh sợi nấm bị hư hại có màu nâu khô xác. 

- Phòng trừ rệp bằng biện pháp nuôi trồng nấm xa các chuồng trại chăn nuôi trâu, bò, gà, lợn.

+ Vệ sinh bằng hoá chất phòng ươm nuôi sợi và khu vực treo bịch chăm sóc, thu hái. 

+ Rắc vôi bột toàn bộ nền nhà xưởng nơi sản xuất. 

c) Các loại ruồi nấm

Có 2 loại ruồi hại nấm chủ yếu là loại ruồi nhỏ (Mycophila fungicola) kích thước dài 1,0 - 1,2 mm, đầu ngực đen, bụng và chân màu đỏ vàng và ruồi lớn (Drosophila immigrans) thân dài 3 – 4 mm sải cánh 7 – 9 mm. Ấu trùng của ruồi ăn sợi nấm, nếu nhiễm nhiều có thể ăn hết sợi tơ nấm trong bịch (nông dân hay gọi là lại mùn cưa), con trưởng thành chích hút vào mũ nấm làm nấm có các vết đen, ăn sâu vào mũ nấm. Nếu thời tiết nóng ẩm nhiệt độ cao trên 28 - 32oC ruồi nấm phát triển mạnh, ấu trùng chui lên quả thể nấm làm thối nấm. 

- Nguyên nhân do khu vực trồng nấm vệ sinh không sạch sẽ, gốc nấm, chân nấm không vứt bỏ cách xa nhà trồng nấm và thời tiết nóng. Hiện nay đây là đối tượng gây hại rất lớn đối với sản xuất nấm tại Đà Nẵng.

- Phòng trừ bằng các biện pháp:

Đối với ruồi hại nấm phải thực hiện nguyên tắc phòng là chính: Sàn nhà trồng nấm nên cần được cán 1 lớp bê tông để dễ vệ sinh. Giữ nhà trồng thông thoáng, sạch sẽ. Tuyệt đối không để tàn dư nấm sau thu hoạch rơi vãi xuống sàn nhà vì đây là nguồn hấp dẫn ruồi nấm đến gây hại.

Sau các đợt trồng cần giở bạt cho trại khô thoáng, xử lý vôi kỹ, xịt hết tất cả các ngóc ngách trong nhà trồng.

Trong quá trình trồng, che kín nhà cấy, ươm sợi, nhà trồng bằng lưới chắn côn trùng có mật độ lỗ lưới cao (200 lỗ/cm2), vệ sinh nhà xưởng, dùng hương xua ruồi, muỗi; treo long não tại các góc nhà trồng; dùng bẩy sinh học (tấm plastic có lớp keo dính). Định kỳ 15-20 ngày tưới sàn bằng nước vôi.

Nếu thấy nhà trồng phát sinh ruồi nấm: Vào ban đêm thắp đèn để dụ ruồi nấm và dùng quạt hút đẩy ruồi nấm (biện pháp này chỉ có thể xử lý một phần, không thể trừ hoàn toàn)

Tuyệt đối không dùng các loại thuốc trừ côn trùng độc hại để phun.

d) Tuyến trùng

- Tuyến trùng là 1 loại giun chỉ rất nhỏ chỉ dài khoảng 1mm, thường ở trong đất ẩm hoặc nước bẩn. Có 2 loại tuyến trùng: tuyến trùng ký sinh trên hệ sợi nấm và tuyến trùng gây thối nhũn nấm. Ở nhiệt độ 14 - 20oC thì vòng đời của tuyến trùng là 15 ngày, nếu nhiệt độ cao hơn thì vòng đời nhanh hơn.

- Cách phòng trị: 

+ Tuyến trùng chịu nóng yếu sẽ bị chết 100% ở nhiệt độ 60oC là 1 phút, 50oC là 2 phút và 45oC là 5 phút. Vì vậy quá trình xử lý nguyên liệu, đảo ủ cơ chất đúng kỹ thuật và xông sẽ diệt được 100% tuyến trùng. 

+ Khi chăm sóc, thu hái phải dùng nước sạch như nước ăn để tưới nấm. Trời nắng nóng phải thông thoáng nhà nuôi trồng, quét nước đọng ở nền và có thể rắc vôi bột hoặc tưới nước vôi rồi để khô nền 1 - 2 ngày. 

Các loại sâu bệnh hại nấm chủ yếu là các loại côn trùng, rệp, nhện gây tác động cơ học làm hư hại sợi nấm và quả thể, chúng ta không được dùng các loại thuốc trừ sâu như ở các loại cây trồng khác. Biện pháp chủ yếu là phòng ngừa bằng cách giữ vệ sinh nhà xưởng trồng nấm, cách ly nguồn lây nhiễm sâu bệnh để hạn chế thiệt hại ở mức thấp nhất. Chúng ta cần lưu ý rằng: Nếu người trồng nấm không tuân thủ vệ sinh tốt thì năng suất nấm sẽ giảm dần theo thời gian nuôi trồng.

Tin cùng chuyên mục

Lượt truy cập: 348,654 Hôm qua: 626 - Hôm nay: 1,201 Tuần này: 9,065 - Tuần trước: 1,827 Tháng này: - Tháng trước: 27,161 Online: 14