Thông báo hướng dẫn một số giải pháp kỹ thuật cho sản xuất Đông Xuân 2021-2022

Ngày đăng: 22/11/2021

Để giúp các địa phương triển khai sản xuất vụ Đông Xuân 2021-2022. Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật đề xuất một số giải pháp kỹ thuật để các địa phương triển khai và vận động bà con nông dân áp dụng nhằm bảo đảm kết quả sản xuất, cụ thể như sau:

1. Cây lúa

a) Thời vụ và cơ cấu giống: căn cứ khung lịch thời vụ và cơ cấu giống chung của Sở Nông nghiệp và PTNT ban hành, Phòng Nông nghiệp và Kinh tế các quận huyện sớm tham mưu cho UBND các quận huyện xây dựng cơ cấu giống phù hợp, bố trí lịch thời vụ cụ thể để chỉ đạo sản xuất cho địa phương mình. Vận động nông dân sản xuất theo lịch thời vụ và cơ cấu giống phù hợp.

b) Làm đất: chỉ đạo, đôn đốc nông dân khẩn trương làm đất sớm để cắt cầu nối sinh vật hại chuyển vụ trên lúa chét - cỏ dại nhằm hạn chế sinh vật hại cho vụ Đông Xuân đến.

- Hiện nay lúa chét đang là nguồn thức ăn chính của chuột nên phải cày đất sớm để vùi lấp lúa chét hạn chế nguồn thức ăn của chuột rồi triển khai bẫy bả diệt chuột đầu vụ mới hiệu quả.

- Ngoài ra, làm đất sớm còn có tác dụng phòng ngừa ngộ độc hữu cơ, bệnh đốm nâu-nghẹt rễ, nếu làm đất xong gieo sạ ngay thì gốc rạ, cỏ dại không phân hủy kịp sẽ phát sinh các bệnh này ngay từ đầu vụ.

- Ruộng lúa phải dọn sạch cỏ dại, cày sâu, làm đất nhuyễn; mặt bằng tốt để thuận lợi cho việc điều tiết nước, xử lý thuốc cỏ, chế độ bón phân sau này. Đất sau khi làm xong lên luống tùy theo diện tích ruộng, chiều rộng luống khoảng 2-2,5m để tiện chăm sóc và thoát nước.

c) Lượng giống gieo sạ: sạ lan 4-5kg/sào, sạ hàng 3-4 kg/sào, mạ khay máy cấy 2,5-3 kg/sào (500m2).

d) Kỹ thuật xử lý hạt giống và ngâm ủ: nên xử lý giống bằng nước ấm 540C (3 sôi 2 lạnh) trong vòng 15 phút trước khi ngâm để phá ngủ, kích thích hạt lúa nảy mầm. Loại bỏ hạt lép lửng và lẫn tạp. Ngâm trong nước sạch khoảng 24 giờ, rửa bằng nước sạch 2-3 lần để sạch mùi chua, chất nhờn, để ráo nước và ủ trong 48-52 giờ.

Lưu ý: đảo giống thường xuyên để hạt nảy mầm tốt và đều, nếu thời tiết rét lạnh kéo dài, trong quá trình ủ phải chú ý giữ ấm.

Trong quá trình ủ nếu nhiệt độ xuống thấp thời gian ủ sẽ kéo dài dễ gây hiện tượng chua, vì vậy thường xuyên kiểm tra nếu khô thì bổ sung bằng nước ấm, ngửi thấy mùi chua, cần tiến hành đãi chua; nếu đống ủ quá nóng, dùng nước lạnh để giảm nhiệt (vì quá nóng sẽ làm thui mầm hoặc suy giảm sức sống của giống) và tiếp tục ủ đến khi hạt giống nảy mầm dài bằng 1/3 chiều dài hạt lúa thì đem gieo.

đ) Nước: các địa phương cần tổ chức kiểm tra toàn bộ các hệ thống hồ đập, kênh mương, đặc biệt là những vùng bị sạt lở, bồi đắp trong mùa mưa bão vừa qua; vận động nông dân khơi thông dòng chảy, nạo vét kênh mương tưới tiêu nước hiệu quả và tiết kiệm.

Chế độ nước tưới:

- Sau khi xử lý thuốc cỏ tiền nẩy mầm 2-3 ngày, cỏ hậu nảy mầm 1-3 ngày đưa nước vào ruộng 2-3cm.

- Giai đoạn mạ đến giai đoạn cuối đẻ nhánh rộ mực nước 3-5cm.

- Giai đoạn đứng cái làm đòng đến chín sữa mực nước cho vào ruộng 7-10cm.

- Giai đoạn chín sáp bắt đầu rút cạn nước đến khi thu hoạch.

e) Bón phân:

- Đối với sản xuất lúa theo tập quán truyền thống: trước khi gieo sạ 10-15 ngày nên xử lý vôi 20-25kg/sào (500m2) để xử lý đất và phân huỷ nhanh gốc rạ, các tàn dư thực vật

+ Bón lót: bón trước khi bừa lần cuối mỗi sào 500kg phân chuồng hoai (nơi nào không có phân chuồng có thể thay thế bằng 20kg N.P.K Humic hoặc 20kg phân hữu cơ vi sinh) và 20kg super lân để giúp bộ rễ phát triển nhanh, khoẻ, hạn chế bệnh đốm nâu nghẹt rễ, ngộ độc hữu cơ, chua phèn.

+ Bón thúc: Tổng lượng phân cho 1 sào (500m2): Urê: 8kg, NPK (16:16:8): 6kg, Kali: 6kg, DAP: 2kg. Cách bón:

Sau sạ: 12-15 ngày: 3kg Ure + 3kg Kali + 2kg DAP

Sau sạ 25-30 ngày: 3kg Ure + 3kg NPK

Sau sạ 50-55 ngày: 2kg Ure + 3kg Kali + 3kg NPK

- Đối với các mô hình sản xuất lúa theo hướng hữu cơ phải tuân thủ theo quy trình bón phân cho lúa theo hướng hữu cơ:

+ Bón lót: Trước khi gieo sạ 10-15 ngày nên xử lý vôi 20kg/sào (500m2) để xử lý đất và phân huỷ nhanh gốc rạ, các tàn dư thực vật…

Sau khi làm đất lần cuối bón: 20kg phân lân nung chảy + 25kg phân hữu cơ vi sinh  + 8 kg bánh dầu.

+ Thúc 1: sau sạ 10-12 ngày bón 25 kg phân khoáng hữu cơ + 4kg bánh dầu.

+ Thúc 2: sau sạ 25 -30 ngày bón 25 kg phân khoáng hữu cơ và 4kg bánh dầu.

+ Bón đòng: sau sạ 43-47 ngày bón đòng 10 kg phân khoáng hữu cơ.

+ Trước trổ khoảng 20 ngày phun 02 gói phân bón lá đón đòng.

g) Phòng trừ cỏ dại: sử dụng thuốc trừ cỏ tiền nảy mầm hoặc hậu nảy mầm để trừ cỏ ngay từ đầu vụ để ngăn ngừa sự cạnh tranh dinh dưỡng cũng như ánh sáng của cỏ dại, đồng thời hạn chế nguồn ký chủ của sâu bệnh.

- Thuốc tiền nảy mầm: Sofit 300EC, Prefit 300EC, Sonic 300EC, Vifiso 300EC…phun 1- 3 ngày sau sạ. Phun càng sớm hiệu quả càng cao; cho nước vào ruộng từ 2 - 3 ngày sau khi phun thuốc.

- Thuốc hậu nảy mầm: Sirius 10WP; Pyanchor 5EC; Tempest 36WP, Quinix 32WP…(phun sau sạ 5 - 10 ngày). Trước khi phun nên tháo nước trong ruộng để cỏ tiếp xúc được với thuốc (nhưng chú ý không tháo nước quá khô sẽ giảm hiệu lực của thuốc). Sau khi phun thuốc cỏ l - 3 ngày cần cho nước vào ruộng để tăng hiệu lực của thuốc.

Ghi chú: Sử dụng thuốc theo khuyến cáo trên nhãn bao bì, không trộn lẫn 2 loại thuốc tiền và hậu nảy mầm để phun, gây lãng phí mà không hiệu quả.

h) Một số khâu kỹ thuật  khác cần quan tâm

- Chú trọng các giải pháp sạ thưa, sạ hàng nhằm giảm lượng giống gieo sạ trên đơn vị diện tích, cây lúa khỏe, ít nhiễm sâu bệnh hơn…

- Sử dụng hạt giống chất lượng để tăng hiệu quả sản xuất. Có kế hoạch giống dự phòng và mở rộng nhân giống trong nông hộ để đảm bảo nguồn giống cho vụ sau.

- Tăng cường sử dụng phân hữu cơ thay thế phân vô cơ để bón cho cây nhằm góp phần cải thiện chất lượng nông sản, nâng cao hiệu quả của sản xuất, bảo vệ nguồn tài nguyên đất nông nghiệp.

- Vận động nông dân ứng dụng thực hiện chương trình ICM (3 giảm 3 tăng), IPM, sản xuất theo hướng hữu cơ nhằm hạn chế đến mức thấp nhất việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, tăng chất lượng nông sản và bảo vệ môi trường sinh thái.

- Thường xuyên theo dõi tình hình sâu bệnh hại, đặc biệt chú ý triển khai diệt chuột trước khi xuống vụ và phải tăng cường các biện pháp diệt chuột xuyên suốt cả vụ để bảo vệ sản xuất.

- Sử dụng thuốc BVTV an toàn, hiệu quả theo nguyên tắc “4 đúng”.

- Khuyến cáo nông dân không nên sử dụng các loại thuốc trừ cỏ khai hoang để phun trừ cỏ bờ ruộng và cỏ trên các kênh mương, chỉ nên phát bờ vệ sinh đồng ruộng bằng biện pháp thủ công. Vì sử dụng thuốc trừ cỏ khai hoang sẽ dễ gây sạt lở bờ ruộng và gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe con người và hạn chế nơi cư trú của thiên địch trong giai đoạn chuyển vụ.

- Những vùng có nguy cơ thiếu nước tưới nên chuyển đổi cơ cấu cây trồng thay cho sản xuất lúa để tiết kiệm nước tưới.

2. Cây rau màu

a) Những ruộng lúa ở vùng cao, dùng nước trời, có nguy cơ thiếu nước cuối vụ có thể chuyển sang trồng ngô lai, đậu xanh cao sản...

b) Làm đất kỹ, tơi xốp và đảm bảo đủ nước trong những giai đoạn sinh trưởng thiết yếu của cây trồng.

c) Vệ sinh đồng ruộng, chăm bón kịp thời, phòng trừ sâu bệnh theo nguyên tắc quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) và thu hoạch đúng thời điểm theo từng loại cây.

d) Trước khi vào vụ sản xuất rau, lạc nên khuyến cáo nông dân xử lý nấm đối kháng trichoderma để xử lý đất nhằm hạn chế bệnh héo rũ trên cây lạc và chết cây trên cây rau (do trải qua mùa mưa lũ nên mầm bệnh dễ lây lan trên diện rộng).

đ) Các địa phương khuyến cáo người dân không được sử dụng tất cả các loại thuốc trừ cỏ tại các vùng sản xuất rau để đảm bảo an toàn cho cây trồng, nên làm cỏ bằng biện pháp thủ công hoặc máy cắt cỏ.

e) Tăng cường sử dụng phân hữu cơ thay thế phân vô cơ để bón cho cây nhằm góp phần cải thiện chất lượng nông sản, nâng cao hiệu quả của sản xuất, bảo vệ nguồn tài nguyên đất nông nghiệp.

g) Tại các vùng sản xuất rau, khi có sâu bệnh hại xảy ra thì khuyến cáo người dân sử dụng thuốc theo danh mục thuốc được phép sử dụng cho cây rau.

h) Khuyến cáo người dân có diện tích trồng màu ở lân cận các vùng sản xuất rau không dùng thuốc trừ cỏ để phun (nhằm tránh ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây rau) mà nên xới xáo, vun gốc kết hợp làm cỏ trong quá trình chăm sóc cây màu.

3. Cây hoa

Vừa qua, do ảnh hưởng của mưa kéo dài đã ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng phát triển của cây hoa và đã tạo điều kiện thuận lợi cho một số bệnh phát sinh gây hại trên cây hoa như bệnh đốm lá, bệnh thối thân, bệnh lở cổ rễ, bệnh héo vàng, héo xanh… Vì vậy, cần vệ sinh và tiến hành xử lý đồng ruộng.

 Đối với bệnh héo vàng do nấm Fusarirm Sp. và héo xanh do vi khuẩn gây hại, do chưa có thuốc đặc trị nên cần chú ý nhổ bỏ cây bị bệnh, xử lý vôi hoặc nấm Trichoderma để hạn chế bệnh lây lan ra diện rộng. Có thể kết hợp xử lý hoặc phòng bệnh bằng các loại thuốc: Bệnh héo vàng: Amistar Top 325SC, Aliette 80WG, Agri - Fos 400SL…; bệnh héo xanh: Novinano 55WP, New Kasuran 16.6WP, Kasumin 2L,…

Đối với bệnh lở cổ rễ sử dụng một trong các loại thuốc: Aliette 80WG, Validacin 3L/5L… để phòng trừ.

Đối với bệnh đốm lá, bệnh thối thân sử dụng một trong các loại thuốc: Ridomil 68WP; Daconil 500SC, 75WP…

Chú ý: Để tăng cường hiệu lực của thuốc trong điều kiện thời tiết mưa khi phun thuốc cần pha thêm chất bám dính nhằm tăng hiệu quả phòng trừ.

Ngoài ra, trên cây hoa còn có các đối tượng như bệnh gỉ sắt, rầy rệp, bọ trĩ, dòi đục lá…gây hại rải rác, cần chú ý theo dõi để xử lý hiệu quả.

4. Cây ăn quả

Thời gian qua mưa liên tiếp đã gây ảnh hưởng tới vườn cây ăn quả, làm cho cây sinh trưởng kém, làm giảm năng suất, chất lượng vào những mùa vụ tiếp theo.

Để từng bước khôi phục sinh trưởng, phát triển các vườn cây ăn quả, cần tiến hành một số biện pháp như sau:

a) Sau khi vườn cây đã ráo nước, dùng cào phá váng trên bề mặt, để cho bộ rễ cây có thể hút được oxy. Khi phá váng xong cần che phủ gốc bằng rơm rạ, hoặc cỏ khô.

b) Xử lý thuốc BVTV: sử dụng nấm đối kháng Trichoderma và các loại thuốc trừ nấm vùng rễ, nhằm ngăn chặn nấm gây hại cho bộ rễ, điển hình là nấm phytophthora, Fusarium… một số loại thuốc khuyến cáo như: Curzate, Ridomil, Aliette, Metalaxyl…hoặc thuốc gốc đồng: Coperzine, Coc85, Kocide, Champion, Funguran, Bordeaux... phun quanh gốc.

c) Tưới phân kích rễ theo hình chiếu tán cây để bộ rễ tơ mới phát triển (có thể sử dụng phân bón TrimixDT Super Roots hoặc Trimix DT02 hoặc đạm cá…) kết hợp phun phân bón lá để tăng cường khả năng chống chịu.

d) Tưới đủ ẩm thường xuyên trong những ngày nắng nóng, hanh khô, không để tình trạng cây mất nước.

đ) Có thể sử dụng nấm đối kháng Trichoderma ủ với phân hữu cơ và tăng cường bón phân hữu cơ vi sinh để làm giàu hệ thống vi sinh vật đất, đặc biệt các vi sinh vật đối kháng.

e) Khi vườn cây đã hồi phục cần quan tâm chăm sóc hơn trước kia, để cây nhanh chóng sinh trưởng tốt, cho sản lượng cao trở lại.

5. Đề nghị

Để giúp nông dân triển khai tốt sản xuất Đông Xuân 2021-2022, đề nghị các địa phương cần phải phổ biến Thông báo này đến tận thôn, đội sản xuất./.

 

Tin cùng chuyên mục

Lượt truy cập: 348,626 Hôm qua: 626 - Hôm nay: 1,173 Tuần này: 9,065 - Tuần trước: 1,799 Tháng này: - Tháng trước: 27,133 Online: 9